Gia Đình Hiện Đại

SỨC KHỎE

Ly nước bí truyền, giúp khai thông tim mạch ngăn ngừa đột tử trước khi quá muộn

Có người thấy đau tại một điểm vùng ngực trái, có người thấy đau sau xương ức, không ít người nhận biết được đau chỉ ở vùng trước tim, nhưng lại có người mô tả đau toàn bộ vùng ngực cả trái lẫn phải. Tuy nhiên gần như thống nhất là đau dữ dội đến nỗi có cảm giác sắp chết đến nơi nếu không được vào viện.

Chúng tôi gặp khá nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim nhưng không đau ngực mà đau vùng thượng vị khiến tưởng nhầm thủng dạ dày, lại có bệnh nhân đau khu trú ở vùng hố chậu phải. Người ta hay thấy đau thượng vị ở những người bị nhồi máu cơ tim thành dưới. Chúng tôi đã có trường hợp chẩn đoán viêm ruột thừa chuẩn bị mổ, nhưng trước khi mổ cho làm điện tim; trên điện tim lại thấy hình ảnh nhồi máu cơ tim, và điều trị nhồi máu cơ tim ổn định thì hết đau hố chậu phải. Vì thế trong sách y học người ta hay nói đến “hội chứng bụng” trong nhồi máu cơ tim.

Hướng lan của đau cũng đặc biệt (xem hình 3.1). Trong trường hợp điển hình đau thường lan lên bả vai trái, cánh tay, cẳng tay và các ngón của bàn tay, trái nhất là ngón út. Có khi đau gây mỏi cổ, cứng hàm, tê mặt,… đây là những nét rất riêng về hướng lan dựa vào đó người ta có thể phân biệt được các cơn đau ngực do viêm dây thần kinh liên sườn, đau thành ngực, đau do dày dính màng phổi cũ do hội chứng vùi lấp, do viêm sụn sườn,… Như vậy đau ngực không chỉ đơn thuần do nhồi máu cơ tim.

Khác cơn đau thắt ngực thông thường, trong nhồi máu cơ tim cơn đau kéo dài, quá 15-30 phút. Ngừng gắng sức và dùng thuốc nitroglycerin ít tác dụng, nếu có tác dụng thì chỉ trong thời gian rất ngắn.

Tóm lại cơn đau ngực trong nhồi máu cơ tim khác hẳn cơn đau thắt ngực thông thường ở mấy tính chất sau:

– Cường độ đau lớn hơn.

– Thời gian đau kéo dài hơn.

– Ngừng gắng sức và dùng thuốc giãn mạch (nhóm nitrat) không có tác dụng cắt cơn đau. Thậm chí có những bệnh nhân ngay cả dolargan, morphin cũng không cắt được cơn đau.

Theo giáo sư Vũ Ðình Hải, chỉ có 1/3 số trường hợp nhồi máu cơ tim đau xuất hiện có liên quan đến gắng sức. Cũng có tới 15-20% trường hợp nhồi máu cơ tim mà không có cơn đau ngực. Hay thấy có ở những trường hợp sau đây:

– Bệnh nhân cao tuổi

– Vốn đã có bệnh đái tháo đường

– Vốn có tăng huyết áp.

– Bệnh nhân đang trong thời kỳ hậu phẫu.

Ở những bệnh nhân không có cơn đau thắt ngực, chẩn đoán chủ yếu dựa vào biến đổi điện tâm đồ và tăng cao một số men tim.

2. Biến đổi điện tâm đồ

Ðiện tâm đồ là biểu đồ ghi sự biến đổi dòng điện sinh học của các tế bào cơ tim.

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim chủ yếu dựa vào sự biến đổi của sóng Q, đoạn ST, sóng T và sóng R.

Như vậy ta hiểu được rằng nhồi máu cơ tim là tên gọi của vùng tim đã bị hoại tử do thiếu oxy nuôi dưỡng. Quá trình này được mô tả theo trình tự ban đầu là thiếu máu nuôi dưỡng cơ tim, tình trạng này không được chữa sẽ dẫn đến tổn thương vùng cơ tim thiếu máu đó và sau cùng vùng cơ tim này bị hoại tử, tạo nên vùng cơ tim bị nhồi máu. Vì vậy đánh giá mức độ nặng nhẹ của nhồi máu cơ tim bên cạnh vị trí nhồi máu người ta rất chú ý đến bề rộng của vùng cơ tim bị hoại tử.

dien tim

Vẫn biết rằng quan sát biến đổi trên điện tâm đồ là công việc của người thầy thuốc, song chúng tôi cũng nói đến một cách sơ bộ để độc giả hiểu được như thế nào là hình ảnh điện tim của nhồi máu cơ tim.

Tổn thương cơ tim trong nhồi máu cơ tim

1. Thiếu máu cục bộ 2. Tổn thương 3. Hoại tử

Ðiện tim thay đổi theo từng giai đoạn trong nhồi máu cơ tim thành trước và thành dưới

Trong sự biến đổi của điện tim thì sự biến đổi của đoạn ST, sóng T, sóng Q là có nghĩa hơn cả bởi chúng là tấm gương phản ánh quá trình tổn thương và hoại tử cơ tim.

PinIt

BÀI ĐẶC BIỆT




loading...