Gia Đình Hiện Đại

SỨC KHỎE

Ly nước bí truyền, giúp khai thông tim mạch ngăn ngừa đột tử trước khi quá muộn

– Biến đổi của sóng T: Ðến sớm nhất là 1 sóng T khổng lồ, nếu có điện tâm đồ cũ đễ nhận biết bởi sự so sánh giữa điện tâm đồ đó với điện tâm đồ mới. Tiếp đến là sóng T thấp dần, rồi đến sóng T âm (gọi là sóng T vành). Sóng T âm sâu dần đến một mức độ nào đó, sóng T lại bớt sâu để rồi có T dẹt, và sau cùng một số trường hợp sóng T lại dương lại.

– Biến đổi của đoạn ST: Ðoạn ST chênh lên dần dần, đây là dấu hiệu nhạy, có sớm. Ðoạn ST chênh lên bằng hoặc hơn 2 mm và có ít nhất 2/12 đạo trình mới có ý nghĩa. Ðoạn ST chênh lên kết hợp với sóng T khổng lồ phía sau tạo thành một sóng có hình “vòm” gọi là sóng Pardee. Sau khi chênh lên đến tối đa, đoạn ST sẽ hạ dần dần để rồi trở về đường thẳng điện. Ðoạn ST chênh kéo dài hay gặp trong những trường hợp phình vách tâm thất.

– Biến đổi của sóng Q: Sóng Q còn có tên gọi là sóng hoại tử, nó đặc trưng cho hoại tử cơ tim. Sóng Q thường có muộn hơn biến đổi ST. Hay thấy xuất hiện ở giờ thứ 4 đến giờ thứ 6 sau khi nhồi máu cơ tim xuất hiện. Về tiêu chuẩn sóng Q bệnh lý, người ta thường nói đến một sóng Q rộng hơn 0,04 giây và sâu bằng hoặc sâu hơn 3 mm. Dựa vào sóng Q người ta biết được bề rộng của vùng hoại tử cơ tim. Sóng Q sẽ tồn tại mãi, đây là dấu hiệu của vùng cơ tim hoại tử.

3. Biến đổi men tim

Có 3 loại men tim được chú ý nhiều nhất, sự tăng lên của các men này giúp cho việc chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim, đó là transaminase, CPK, LDH. Ở Việt Nam chủ yếu là men transaminase (với SGOT) vì dễ làm hơn cả.

– Transaminase (SGOT còn gọ là ASAT): tăng dần từ giờ thứ 4 của bệnh, từ giờ thứ 12 đến giờ thứ 24, có thể cao gấp 5-10 lần bình thường (SGOT bình thường từ 6 đến 17 đơn vị/l), tăng tối đa ở ngày thứ ba, tăng kéo dài, sau đến 7 ngày men này trở lại bình thường.

– Creatin phosphakinase (CPK): tăng ngay ở giờ thứ nhất, giờ thứ hai, thứ ba trong nhồi máu cơ tim, tăng cao nhất ở ngày đầu, sau đó giảm dần đến ngày thứ 4, thứ 5 chúng đã trở lại bình thường (CPK bình thường là 5,5 đơn vị/l). Vì vậy men này rất có ích để chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim, ngay từ mấy giờ đầu tiên.

– Lactic dehydrogenase (LDH): Từ giờ thứ 16 đến giờ thứ 24 men này bắt đầu tăng, tăng cao nhất ở ngày thứ 6 có thể tăng kéo dài 8 đến 15 ngày. Men này không có giá trị để chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim như men CPK.

Diễn biến 3 men chính trong nhồi máu cơ tim cấp

Giới hạn bình thường

CK: Nữ 10-70 UI/l; Nam: 25-90 UI/l

LDH: 25-100 UI/l; SGOT: 0-35 UI/l

x6, x4, x2 tăng gấp 6 lần, 4 lần, 2 lần.

Ngoài 3 tiêu chuẩn chính để chẩn đoán nhồi máu cơ tim là đau ngực, biến đổi điện tim, biến đổi men tim, người ta còn thấy có một số triệu chứng khác nữa như:

4. Triệu chứng tiêu hóa

Ðồng thời với đau ngực, buồn nôn và nôn là những triệu chứng thường gặp. Bởi vậy đa số bệnh nhân vẫn tự giải thích là mình bị cảm; có người còn xoa dầu nóng, “cạo gió”,… những trường hợp nhồi máu cơ tim thành dưới hay thấy đầu bụng, chướng hơi, bí trung tiện, đau thượng vị, có khi lại nấc liên tục.

Có những bệnh nhân nhồi máu cơ tim đau vùng thượng vị dữ dội, đau đến mức được chẩn đoán dạ dày bị thủng và phẫu thuật. Mổ không thấy thủng mà lại thấy nhồi máu cơ tim.

Có bệnh nhân nhồi máu cơ tim lại có triệu chứng của viêm ruột thừa. Ðịnh can thiệp bằng phẫu thuật nhưng trước lúc mổ làm điện tâm đồ lại thấy nhồi máu cơ tim. Cũng may mắn là tỷ lệ các trường hợp khác thường này không nhiều.

5. Tụt huyết áp

Người ta thường hay nói đến sốc tim trong nhồi máu cơ tim với vật vã, kích thích, vã mồ hôi, chân tay lạnh, hốt hoảng, tụt huyết áp. Những bệnh nhân này có tỷ lệ tử vong 85%.

PinIt

BÀI ĐẶC BIỆT




loading...